Phật giáo quan niệm gì về vấn đề chuyển giới

Giới tính (bhāva = gender) là một trong những vấn đề quan trọng được nhiều người quan tâm từ
cổ đại cho đến hôm nay. Về cơ bản, giới tính được định hình trong thời gian thai nghén và bộc lộ
rõ ràng khi một chúng sanh chào đời.
Mặc dù có những dấu hiệu vững chải để khẳng định giới tính khi một chúng sanh sắp hiện hữu
và trong khi trưởng thành, tuy nhiên, vì những lý do khác nhau, do nghiệp quả khác nhau, nên đã
có một sự gập ghềnh, tương phản giữa giới tính với hình hài.
Có những chúng sanh, tuy mang thân nam (purisa) nhưng ẩn tàng sâu thẳm trong tâm là bản chất
của một người nữ (iṭṭhi bhāva) và ngược lại. Sự bất cập này đã tạo nên những nỗi thống khổ vô
bờ mà cổ thư Ấn Độ cũng như kinh văn Phật giáo đã đặc tả trong nhiều đoạn.
Ngày hôm nay vấn đề giới tính và việc tìm lại giới tính đích thực của mình là một khát vọng
cháy bỏng trong cộng đồng LGBT[1]. Trong một vài trường hợp đặc thù, do định kiến đạo đức
của xã hội nói chung với cộng đồng LGBT, làm nguyên nhân gây nên những nổi đau trầm thống.

Tư vấn về gay viet nam
Từ hiện thực xã hội mang tính bức thiết này, chúng tôi thử khảo lại kinh điển Phật giáo và cổ thư
Ấn Độ nói chung, nhằm làm rõ quan điểm của Phật giáo về vấn đề chuyển đổi giới tính
(transgenderism).

1. Lược khảo về thai nhi và giới tính trong cổ thư Ấn Độ và Phật giáo.
Thông qua sự kết hợp giữa mẹ và cha và các điều kiện thuận lợi, trong đêm đầu tiên, phôi thai
(garbha:गर्भ) hình thành như một hạt sương, vào khoảng một tuần, phôi thai hình thành như một
bọt nước, vào khoảng nửa tháng, phôi thai như quả bóng nhỏ và sẽ rắn lại vào tháng thứ nhất.
Vào tháng thứ hai thì phần đầu hình thành. Tháng thứ ba thì hai chân hình thành. Tháng thứ tư
bụng và hông hình thành. Tháng thứ năm thì xương sống hình thành. Tháng thứ sáu thì gương
mặt gồm mắt, tai, mũi hình thành. Tháng thứ bảy thì cơ thể hòa hợp với linh hồn tự ngã (jīva =
āṭmā). Tháng thứ tám, các quan năng trên cơ thể đã hoàn bị. Trong sự hòa hợp đó, một đứa trẻ
trai sẽ được sinh ra nếu như hạt giống của người cha mạnh mẽ. Và, một đứa trẻ gái sẽ được sinh
ra nếu hạt giống của người mẹ chiếm phần trội hơn. Nếu như cả hai yếu tố, người cha và người
mẹ, cân bằng thì sẽ sinh ra một người kẻ không định hình giới tính (napuṃsaka[3]: नपुंसक=非男
女).
Theo kinh Tương Ưng (S.i,206) quá trình hình thành một thai nhi được Đức Phật mô tả như sau:
Trước tiên, Kalala,
Rồi từ Kalala,
Abbuda có mặt.
Rồi từ Abbuda,
Pesī (thịt mềm) được sanh ra.
Pesī sinh Ghana (thịt cứng),
Rồi đến Pasākha (chi tiết),
Tóc, lông và các móng,
Tiếp tục được sanh ra.
Những gì người mẹ ăn,
Đồ ăn, đồ uống nào,
Con người trong bụng mẹ,
Ở đấy, lấy nuôi dưỡng.
Trong kinh điển Hán tạng, các thuật ngữ quan trọng nhằm mô tả thai kỳ đều được phiên âm gần
giống với Phạn ngữ trong cổ thư Upaniṣads và kinh tạng Pāli như 歌羅邏 (kalala), 安浮陀
(abbuda), 伽那 (ghana)…
Đáng chú ý trong kinh Bào thai do ngài Trúc-pháp-hộ dịch, kinh Đại Bảo Tích, quyển thứ 57,
bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh và quyển thứ 55, bản dich của ngài Bồ-đề-lưu-chí[8] đã mô tả quá
trình hình thành thai nhi từ tuần thứ nhất cho đến tuần thứ 38. Cả ba bản kinh đều cho rằng
nguyên nhân sanh gái hay trai do nhiễm tâm của thần thức thác thai khởi lên với cha hoặc mẹ.
Quan điểm sanh gái hay trai phụ thuộc tâm ái nhiễm cũng được tìm thấy trong kinh Chánh pháp
niệm xứ[9], quyển thứ 34, luận Đại trí độ[10], quyển thứ tư.
Như vậy, cả cổ thư Ấn Độ và kinh văn Phật giáo đã đề cập đến quá trình thác thai và một phầnnguyên nhân sinh trai hay gái[11]. Cả hai nguồn tư liệu đều thừa nhận rằng, trong một vài trường
hợp đặc biệt, có những sinh thể ra đời mang trong mình một nỗi đau thầm kín: đó chính là sự
xung đột giữa giới tính và hình hài.

Theo yêu cầu của đề tài, chúng tôi sẽ khảo sát về vài trường hợp đặc thù trong kinh điển Phật
giáo.

Giới thiệu : callboy
2. Vài trường hợp đặc thù về giới tính trong kinh điển.
Trường hợp đầu tiên liên quan đến tình trạng đặc thù về giới tính được kinh văn đề cập, đó chính
là trường hợp của tôn giả Vakkali (Thera.39). Theo Trưởng lão Tăng kệ: Khi đến tuổi trưởng
thành, và học xong ba tập Vệ-đà, trở thành thuần thục trong những thành tích Bà-la-môn, ngài
thấy bậc Đạo Sư, ngài nhìn không chán thân hình tuyệt vời (disvā rūpakāyassa
sampattidassanena) của đức Phật, và ngài đi theo bậc Đạo Sư. Khi ngài trở về nhà, ngài nghĩ nếu
ở lại nhà, ngài sẽ không có dịp luôn luôn thấy được đức Phật. Do vậy, ngài xuất gia, và từ khi ăn
uống và tắm rửa, ngài để toàn thì giờ để chiêm ngưỡng đức Phật. Bằng tuệ nhãn siêu việt, Đức
Phật thấy rõ tâm ái nhiễm của tôn giả này nên khởi tư duy: 'Tỷ-kheo này, nếu không được xúc
động mạnh, sẽ không thức tỉnh (Nāyaṃ bhikkhu saṃvegaṃ alabhitvā bujjhissatī)[15] nên Ngài
đã vận dụng một phương cách đặc thù để cuối cùng, tôn giả Vakkali cũng chứng thánh quả. Một
phần của câu chuyện này cũng được đề cập trong kinh Tương Ưng.
Theo tác phẩm luật tạng Cullavagga, những trường hợp đặc thù như: người vô căn (paṇḍaka),
người lưỡng căn (ubhatobyañjanaka)[17] sẽ không được xuất gia và thọ giới. Kinh luật Hán tạng
gọi những cá thể này bằng đặc ngữ hoàng môn (黃門).